Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhà Thơ Bùi Đăng Sinh


BÙI ĐĂNG SINH MỘT THI SĨ
HÓA THÂN VÀO … NỐT NHẠC THƠ
Khi đọc tập thơ NƠI ĐỢI CHỜ NHAU của thi sĩ BÙI ĐĂNG SINH, nhà thơ VŨ ĐÌNH MINHđã có lời than: “…Bẵng đi một thời gian dài không thấy xuất hiện. Những tưởng anh đã thôi hẳn nghiệp văn chương…”. Nhưng với tôi (Lâm Quý) lại nghĩ khác : thời gian bẵng đi ấy là thời gian thi sĩ BÙI ĐĂNG SINH “ Hóa thân vào … nốt nhạc thơ” (Bài Xuất thần).
Ông sinh tuổi Canh Thìn(1940), quê gốc Hà Tây, trưởng thành là một nhà giáo dạy Văn cấp III ở Vĩnh Phúc. Ông đã mang trong mình một nghề(dạy học) và một nghiệp Thơ – văn. Thơ ông xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX với bài : Đường Tuần Giáp Lai Châu (1963) – viết theo thể thơ lục bát đăng báo Cứu Quốc được nhận giải thưởng, và được nhà văn NGUYỄN TUÂN ghi lời khen : “ Chúc anh thi sĩ trẻ Bùi Đăng Sinh trẻ mãi với thơ hay, thơ mà càng hay thì tuổi đời càng trẻ lại…”.
Hơn 40 năm thi sĩ Bùi Đăng Sinh đã: “Hóa thân vào … nốt nhạc thơ” để có được 4 tập thơ dâng đời: Nơi đợi chờ nhau (NXBLao động – 1994), Tôi đi tìm tôi(NXB Hội nhà văn - 1997), Nhìn lại ngày mai(NXB Lao động - 1998), Thăm thẳm(NXB Hội nhà văn - 2004)… và hàng chục bài khảo cứu văn nghệ dân gian vùng quê Vĩnh Phúc.
Thơ ông nặng tình và tràn cảm xúc một vùng quê xứ Đoài, tạo thành những mạch ngầm trong trẻo đưa người đọc vào cõi thơ mộng êm dịu của một miền quê châu thổ sông Hồng muôn thuở. Từ đó người đời gẩy lên những nốt nhạc tâm tình đồng cảm cùng thi sĩ.
Tạp chí Văn nghệ Vĩnh Phúc trân trọng giới thiệu ba bài thơ tiêu biểu của ông.
LÂM QUÝ
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
(VNVP số tháng 7+8/2006)
BÙI ĐĂNG SINH
XUẤT THẦN
Em vẫn em thường ngày
Khi chơi đàn
Anh nhìn thấy khác
Hóa thân vào nốt nhạc
Say sưa
Em là mưa
Là nắng
Là tiếng khóc
Là giọng cười
Là ký ức ngủ vùi
Được đánh thức
Bằng âm thanh
Anh miên man rạo rực
Tựa thôi miên
Căn phòng chợt lặng yên
Em ngồi đấy
Anh bước đến run rẩy
Tay ngừng giữa không gian
Sợ chạm vào em
Em sẽ tan …
BÙI ĐĂNG SINH
CHÚT TÌNH
Tiếng chim báo sáng hót rồi
Bình minh hồng phía chân trời … Nhớ anh
Em xin gửi một chút tình
Cho xanh lại ước mơ xanh thuở nào …
Những gì đã nhận đã trao
Ngàn muôn sau vẫn lắng vào trong tim
Bao nhiêu thân phận nổi chìm
Bao nhiêu tăm cá, bóng chim xa vời
Thương chơi vơi, nhớ chơi vơi
Xin đừng rao bán cho đời xót xa
Kiếp này dẫu có phong ba
Muối còn khát mặn nữa là yêu nhau
Ngày xưa vườn trắng hoa cau
Bây giờ giàn đổ, nát nhàu trầu cay
Cứ gì đêm, cứ gì ngày
Mình ngồi mình rót mình say một mình
May mà còn một chút tình
Trao nhau đến hết, đem kinh trả chùa
Mặc ai cháu chúa con vua
Mặc ai toan tính được thua rối mù
Cành cong đã có cây gù
Lạy trời mưa xuống, ao tù … lại trong
BÙI ĐĂNG SINH
THU CẢM
Thu tới ta thầm nghĩ đến nhau
Sẻ về rung nhẹ nhánh hoa cau
Nẻo xa mây lẫn cùng sương khói
Thương nhớ đi vào cõi thẳm sâu
Chợt tiếng chuông chùa thong thả rơi
Một bông cúc trắng níu tay người
Mùa thu vàng thế, sao hoa trắng
Hay cứ vô tình trinh tiết ơi …
Người ạ, thu này người có nghe
Gió sông vời vợi dọc triền đê
Ai đi tìm mãi mùa thu chín
Lối cũ còn đây đợi bước về
***
Trại sáng tác Liên hiệp VHNT Việt Nam
Tháng 8 – 1998

Đại hội CLB Thơ Việt Nam Thành phố Hải Phòng lần thứ 2(2015-2020) ngày 21/06/2015


                                                                                  VỀ VỚI HẢI PHÒNG
                                                                        

                                                                           Theo tình yêu tôi về lại Hải Phòng
                                                                           Đã cuối hạ phượng vẫn còn rực đỏ
                                                                           Bao khát khao cùng nỗi niềm thương nhớ
                                                                           Bỗng trào dâng chan chứa tình người

                                                                           Em của ngày xưa tươi tắn nụ cười
                                                                           Gửi tâm hồn vào vần thơ da diết
                                                                           Mình trao cho nhau tiếng lòng tha thiết
                                                                           Và dạt dào theo sóng biển mênh mông

                                                                           Từ Lê Chân đi tới Phạm Văn Đồng
                                                                           Nhớ lắm Đồ Sơn, Cát Bà, Hòn Dấu...
                                                                           Tầu không số từ đây đi chiến đấu
                                                                           Hải Phòng xanh ơi ! mãi mãi anh hùng

                                                                          Trái tim yêu tỏa sáng đến vô cùng
                                                                          Luôn lung linh sắc phượng hồng Đất Cảng
                                                                          Nhịp cánh hải âu trữ tình duyên dáng
                                                                          Gọi người về với phố biển thân thương
                                                                                                                 HP 21--6--2015
                                                                                                               BÙI ĐĂNG SINH











Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du - Nhà Thơ Bùi Đăng Sinh thuyết trình về Truyện Kiều tại Nhà Văn Hóa Quận Đống Đa ngày 10 - 5 -2015








BÙI ĐĂNG SINH
        Tú Bà
Truyện Kiều có một Tú Bà
Nguyễn Du đã phải xót xa bất bình
Nếu bây giờ cụ hồi sinh
Chắc rằng cụ sẽ giật mình…thác ngay!

                                BĐS---1994

Lễ Hội Gò Đống Đa Ất Mùi 2015

BÙI ĐĂNG SINH
               Cành đào xứ Bắc
          Đã có mai vàng
          Nhưng chẳng thể quên sắc hồng đào xứ Bắc.
          Khi Nguyễn Huệ ra quân
          Lê Ngọc Hân
          Chỉ nhắc:
          -Chàng cẩn trọng giữ mình
          Và khi về
          Tặng thiếp càng đào của Long Thành.

          Giản dị vậy thôi
          Người anh hùng bất giác mỉm cười
           Ra đi là phải thắng.

          Áo bào đỏ - sạm đen khói súng
          Nguyễn Huệ vào Thăng Long
          Đúng ngày mồng 5 Tết
          Kinh đô hanh hanh rét
          Sáng bừng lên sắc đỏ của hoa đào
          Vị tướng quân vẫn khoác chiến bào
          Bỗng rưng rưng như là nghệ sĩ
          Tự chọn một cành đào
          Đẹp nhất Nhật Tân

          Gửi về Nam tặng công chúa Ngọc Hân






Nhân dân vui Mừng chụp ảnh với diễn viên đóng Hoàng Đế Quang Trung và Công Chúa Ngọc Hân

Ngày Hội Lục Bát Giáp Ngọ 2014 ngày 6/8 Giáp Ngọ

Nhà thơ Bùi Đăng Sinh và nhà thơ Mai Thanh trong ngày hội Lục Bát Giáp Ngọ 2014 tại Thiên đường Bảo Sơn

Nhà thơ Bùi Đăng Sinh trong ban giám khảo trình diễn thơ Lục Bát ngày 6/8 Giáp Ngọ 2014 tại Thiên đường Bảo Sơn


Nhớ


Trời mưa thì mặc trời mưa
Anh đem theo nắng đón đưa em về
Yêu nhiều người gọi si mê
Bao lời to tát trả về gió mây
Chỉ còn Em với Anh đây
Cùng câu thơ viết những ngày nhớ mong.


  
Cái duyên

         
          Quê quan họ đã thăm rồi
          Người quan họ cũng một thời say nhau
          Ai qua sông Đuống, sông Cầu
          Em ơi cởi áo... ngày sau khó tìm
          Bao nhiêu thân phận nổi chìm
          Mười hai bến nước, chín nghìn nhân duyên
          Ngày nào cùng tựa mạn thuyền
          Người đi để lại lời nguyền cho ai
Yêu hôm nay, nhớ ngày mai
Một câu hát ví nghĩa dài trăm năm
Thiếu trăng tối cả đêm rằm
Cá đi ăn nổi sủi tăm chân bèo
Đã đành duyên phận phải chiều
Bao giờ tháo được dây neo bốn bề
Nghe câu quan họ thì mê
Nào ai vua chúa, ai hề với tôi
Mưa thì đã có áo tơi
Dẫu rằng áo ngắn đứng ngồi che nhau
Người cửa trước, lòng cửa sau
Nhìn nhau chả dám nhìn lâu bao giờ
Một người tưởng, một người mơ
Cái duyên quan họ ngẩn ngơ tháng ngày.

 Hẹn


                Mắt nhìn đăm đắm hoang mang
Em như hạt thóc lọt sàng xuống nia
Mảnh sành ai ném thia lia
Cửa người đã khóa, không chìa....làm sao?
Chờ đây biết đến khi nào
Không đi, cũng chẳng thể vào, ngẩn ngơ
Chân tình – Đâu phải lẳng lơ
Mà sao hẹn vẩn hẹn vơ thế này?


Rượu nhà tự rót, tự say
Nổi chìm trong chén tưởng ngày hoá đêm
Hương bay thoảng chút êm đềm
Bao nhiêu lá rụng bên thềm lẫn rêu
Ngập ngừng chân bước liêu xiêu
                   Nhớ ai mười hẹn cho nhiều lần sai
                               

Trong mưa


                Mưa từ trời xuống với đời
                   Cớ sao người lại giục người chạy mưa?
                   Mưa dày rồi đến mưa thưa
                   Nhịp mau ào ạt, nhịp vừa khoan thai
                   Nước mưa thấm ướt bờ vai
                   Niềm riêng sầu muộn nguôi ngoai ít nhiều
               Ấu thơ tắm nước mưa chiều
                   Đùa nhau trên mảnh sân rêu trước nhà
                   Bao ngày lặn lội đường xa
                   Trời cho gần lại để mà chung mưa
                   Tạm quên ngày xửa ngày xưa
                   Trao nhau hạnh phúc, tuy chưa vẹn tròn
                   Trời cao chỉ bé cỏn con
                   Đất đai rộng thế ta còn tìm nhau
                   Cầu trời mưa thật là lâu
                   Dẫu rằng áo ướt nhưng đầu vẫn khô...

        SA PA TÌNH YÊU


          Núi đang xanh chợt trắng mây
          Khèn Mèo réo rắt dâng đầy lòng thung
          Ngoắc tay cạn chén San Lùng
          Cầu Mây vượt dốc
          Trập trùng ... Sa Pa
          Nhành phong lan tim tím hoa
          Chợ tình ai hát tình ca nồng nàn
          Đàn môi vọng cuối non ngàn
          Pơ mu xanh
          Cả không gian ảo mờ
          Theo em từ lúc tinh mơ
          Chùm hoa bất tử bây giờ... chưa trao
          Phan–xi–păng chất ngất cao
          Đi qua Thác Bạc
          Rẽ vào động tiên
          Vòng ra bờ suối ướm duyên
          Mắt vừa gặp mắt đã nghiêng núi đồi

          Sa Pa – tình yêu của tôi
          Ngàn thông thấp thoáng bóng người trong sương
          Dẫu đi muôn vạn nẻo đường
          Miền mây trắng vẫn cứ thương nhớ hoài.

Nhà thơ Bùi Đăng Sinh và CLB thơ Mái Đền Việt Tổ Bình Đà Bình Minh Thanh Oai Hà Nội


                   BÙI ĐĂNG SINH
Chú Chín

Cháu và chú cùng chăn trâu thuở ấy
Con trâu lùn cày khỏe nhất làng ta
Cây Quéo già có chữ “xê” (C) chữ “ét” (S)
Pháo nổ ran suốt ngày hội Bình Đà

Chú cho cháu con cào cào, châu chấu
Cháu bắt đền khi sáo sổ lồng bay
Ông khấn Lạc Long Quân trong Đền Nội
Xóm Quyếch mình sửa lễ hôm nay

Cháu đi học chú lên đường đánh Mỹ
Khi cháu thành thầy giáo chú hy sinh
Đất nước đã đi vào đổi mới
Chú Chín ơi, chú về dự tế đình

Bạn bè chú mỗi khi nhìn thấy cháu
Ai cũng mừng gần gũi thân quen
Hội không pháo nhưng tiếng cười vui lắm
Cây Quéo già nghiêng bóng xuống ao sen.
                                                                        B. Đ. S



Nhà thơ Bùi Đăng Sinh và đồng chí Nguyễn Hữu Minh bí thư đảng ủy xã Bình Minh Thanh Oai Hà Nội
trao giấy chứng nhận Huy chương vàng Trình diễn thơ Lục Bát Giáp Ngọ 2014
 cho các giả Phùng Thị Sỏi và Nguyễn Thị Kim Liên

Nhà thơ Bùi Đăng Sinh phó chủ tích CLB thơ Việt Nam
 tặng sách nhà Văn hóa xã Bình Minh Thanh Oai Hà Nội


NHỮNG LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA BÁC HỒ

Trong tập “Lịch sử Việt Nam diễn ca”, Bác viết từ những năm 1940-1941, đã được in đá từ hồi ở Pác Bó, có câu kết thúc như sau:
45, sự nghiệp hoàn thành.
Mấy năm sau, Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bác tiên đoán thực là thần kỳ. Nhưng từ đó đến nay, những người được sống gần Bác, cũng chưa ai có dịp hỏi lại Bác vì sao Bác đã có được một sự tiên đoán như vậy.
Về sau này, đọc những sáng tác khác của Bác, chúng ta mới dần dần hiểu được vì sao Bác có sự tiên đoán chính xác đến thế.
Bài thơ “Trò chuyện với trăng”, Bác viết năm 1942, ở Pác Bó, Bác hỏi trăng:
Nam Việt bao giờ thì giải phóng
Nói cho nghe thử hỡi cô Hằng
Trăng trả lời:
Trăng rằng: tôi kính trả lời ông
Tôi đã từng soi khắp núi sông
Muốn biết tự do chầy hoặc chóng
Thì xem tổ chức khắp hay không
Nước nhà giành lại nhờ gan sắt
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.
Năm 1943, trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Bác viết tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”. Trong tập thơ này có bài “Học đánh cờ”. Tập thơ viết bằng chữ Hán, khi dịch ra tiếng Việt, bài thơ được Viện Văn học dịch như sau:
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tiến công
Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời, một tốt cũng thành công
Hai bài thơ trên nêu rõ hai nhân tố chính tạo nên thành công của mọi cuộc cách mạng: TỔ CHỨC và THỜI CƠ. Căn cứ vào hai nhân tố ấy, Bác Hồ đã tiên đoán năm 1945 sẽ là năm Liên Xô và Đồng minh chiến thắng hoàn toàn phát xít Đức – Ý – Nhật, tạo THỜI CƠ cho TỔ CHỨC Việt Minh phát động nhân dân ta tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
BÁO NHÂN DÂN số ra ngày 20-12-1995 có đăng bài “Trận Điện Biên Phủ trên không” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bài viết kể lại đầu năm 1968 khi đến thăm Bộ tư lệnh Phòng Không Không quân, Hồ Chủ tịch đã tiên đoán: “ Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt. Nhớ là khi thua ở Triều Tiên đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội.”
Quả nhiên, sau đó không lâu, suốt 12 ngày đêm (từ18 đến 29-12-1972) Mỹ huy động hơn 200 máy bay chiến lược B52 và hơn 1000 máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Cuộc tập kích chiến lược qui mô lớn ấy bị quân và dân ta đập tan: 81 máy bay hiện đại Mỹ trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F.111 bị bắn rơi, hàng trăm giặc lái Mỹ bị chết và bị bắt sống. Trước tổn thất vô cùng nặng nề, ngay sáng ngày 30-12-1972 chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và đề nghị gặp lại đại biểu chính phủ ta để bàn việc ký hiệp định đình chiến.
Ngày 27-1-1973, hiệp định Pari về Việt Nam được chính thức ký kết. Thắng lợi ấy đã cổ vũ mạnh mẽ quân và dân ta tiến lên “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, như lời thơ chúc Tết của Bác các năm 1967,1968, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện lời mừng xuân cuối cùng của Bác năm 1969:
Tiến lên!
   Chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.

BÙI ĐĂNG SINH

Địa chỉ: Nhà 3A9-Ngõ 565-Đường Nguyễn Trãi-Q.Thanh Xuân-Hà Nội.
ĐT: 0912698432.


Bình thơ Trần Đăng Khoa

ĐI THEO DẤU CHÂN NGƯỜI THẦY

BÀN CHÂN THẦY GIÁO

Thầy ngồi trên ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân thầy ở đâu rồi
Chúng em không rõ.

Sáng nào bom Mỹ giội
Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói
Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi
Thầy cầm súng ra đi
Bài tập đọc dạy chúng em đang dở
Hoa phượng
Hoa phượng cháy một góc trời như lửa.
Năm nay thầy trở về
Nụ cười vui vẫn nguyên vẹn như xưa
Nhưng một bàn chân không còn nữa.

Ôi bàn chân
In lên cổng trường những chiều giá buốt
In lên cổng trường những đêm mưa dầm
Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo
Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
Như nhận ra cái chưa hoàn hảo
Của cả cuộc đời mình.

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp?
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc
Cho lẽ sống làm người.
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ
Nghe âm vang bàn chân đi đánh Mỹ
Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường.
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy năm trước ...

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời.

   1972
TRẦN ĐĂNG KHOA

        Bài thơ “Bàn chân thầy giáo”, Trần Đăng Khoa sáng tác năm 1972, khi còn là cậu học trò 14 tuổi. Ngay năm sau, năm 1973, nhà xuất bản KIM ĐỒNG đã chọn in vào tập thơ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI gồm có 66 bài thơ của Trần Đăng Khoa.
Cho đến nay, thơ viết về người thương binh thì nhiều, nhưng thơ viết về người thương binh là thầy giáo lại rất hiếm hoi. Trong số hiếm hoi ấy, bài thơ “Bàn chân thầy giáo” đã vượt qua sự sàng lọc của thời gian, luôn lấp lánh trong tâm tưởng chúng ta với tư cách là bài thơ thành công nhất về đề tài người thương binh là thầy giáo – ghi nhận sự hiện diện của người thương binh ở một mặt trận khác: Mặt trận giáo dục.
Nói đến giáo dục, đến nhà trường và hình ảnh thầy giáo, người ta thường gắn liền với cặp sách, compa, thước kẻ, hộp phấn ... Nhưng, thầy giáo trong bài thơ này của Trần Đăng Khoa không nằm trong sự thông thường ấy. Thầy giáo xuất hiện trên lớp với hình ảnh “Đôi nạng gỗ”, “xếp cạnh bàn”. Từ đôi nạng, các em phát hiện ra thầy giáo mất một bàn chân. Và các em băn khoăn tự hỏi: “Một bàn chân thầy ở đâu rồi?”. Băn khoăn nhưng không dám hỏi thầy, vì đang là giờ học. Các em nhớ lại cái ngày bom Mỹ giội vào trường, “mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi”, thầy giáo lên đường đi chiến đâu, để lại “Bài tập đọc dạy chúng em đang dở”. “Năm nay thầy trở về”, mọi giá trị phi vật chất tạo nên giá trị con người thầy không hề bị suy suyển, chỉ mất đi một bàn chân:
Nụ cười vui vẫn nguyên vẹn như xưa
Nhưng một bàn chân không còn nữa.
Đi qua chặng đường chiến tranh khốc liệt, người lính – thầy giáo trở về với bục giảng, đi tiếp chặng đường còn lại. Trở về với bục giảng là trở về với công việc cũ, nhưng người thầy giáo thương binh phải đối mặt với những thử thách mới, khó khăn mới, với biết bao phức tạp của cuộc sống đời thường. Thầy giáo thương binh phải chịu đựng những nhức nhối, đau đớn khi thời tiết đổi thay, những ngày trái gió trở trời, “những chiều giá buốt”, “những đêm mưa dầm”. Mặc dầu vậy, người thầy giáo của Khoa vẫn không hề chao đảo. Ông đã hoàn thành nhiệm vụ người thầy bằng tố chất người lính.
Mọi con đường tới lớp, tới trường đều phải qua cổng trường. Cổng trường với biết bao dấu chân, các em vẫn nhận ngay ra dấu chân thầy giáo của mình bởi một nét riêng:
Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo
Nói đến cây nạng gỗ, tả dấu nạng trên đất, trên cát đã có nhiều tác giả viết rồi. Nhưng từ “dấu nạng” liên tưởng đến “lỗ đáo” thì chỉ có ở thơ Trần Đăng Khoa – Nhà thơ học trò 14 tuổi. Thật là một sự liên tưởng ngộ nghĩnh, thông minh chỉ có thể có ở tuổi thơ nhạy cảm. Điều ta cần suy nghĩ sâu sắc hơn ở đây là: từ sự liên tưởng ngộ nghĩnh của tuổi thơ, Trần Đăng Khoa lại có sự liên tưởng ở cấp độ cao hơn: nhìn cái không hoàn hảo cụ thể ở thầy giáo – mất một bàn chân – các em đã liên tưởng đến sự khiếm khuyết trừu tượng, liên tưởng đến “cái chưa hoàn hảo của cả cuộc đời mình”
Bài thơ của Trần Đăng Khoa không chỉ đơn thuần là sự ca ngợi người thầy giáo thương binh, mà còn biểu hiện một nhận biết, một nhận thức về công lao và vai trò bất tử của lớp người đi trước đã hy sinh tính mạng và xương máu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Bàn chân thầy giáo và con đường thầy giáo đã đi trong chiến tranh – với “bàn chân đã mất”, mãi mãi là la bàn tâm tưởng, là kim chỉ nam cuộc đời cho nhiều thế hệ học sinh trong và sau chiến tranh:
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy năm trước ...
Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời.
      
    BÙI ĐĂNG SINH
Địa chỉ: Số nhà 3a9 Ngõ 565 Đường Nguyễn Trãi Thanh Xuân Hà Nội

SĐT: 0912698432